Bệnh seo đen khoai lang

Bệnh sẹo đen khoai lang là một lại phá hại ở rễ và củ không những làm giảm năng suất, phẩm chất củ mà gây ngộ độc cho gia súc, gia cầm khi sử dụng củ nhiễm bệnh. Bệnh phổ biến ở một số nước vùng Nam Mỹ, Bắc mỹ, nhật bản và trung quốc. Ở nước ta bệnh sẹo đen là một trong những đối tượng kiểm dịch ngoại nhóm 2

benh-seo-den-khoa-lang

Bệnh gây chủ yếu ở rễ và ở củ, ngoài ra còn có thể gây hại ở nấm và thân cây. Vết bệnh hình bầu dục hoặc hình tròn, lúc đầu xanh đen sau đó chuyển màu xám đen. Vết bệnh hơi lõm vào phần mô cây, mùi hôi có trưởng hợp ủng nước, vị đắng, đường kính vết bệnh dao động từ 1 – 4 cm, lõi sâu từ 0.5 – 1cm. Trên bề mặt vết bệnh có nhiều chấm đên nhỏ đó là quả thể bầu của nấm, đặc biệt này giúp phân biệt triệu chứng bệnh được dễ dàng hơn.

Bệnh phát triển ở nhiệt độ thích hợp 23 – 28oC. Nhiệt độ tối thiểu 9 – 10oC.

Nguồn bệnh tồn tại ở àng bào tử phân sinh, bào tử hậu và đặc biệt là sạng bào tử hữu tính. Nguồn bệnh có thể tồn tại ở nhiều vị trí như tàn dư cây bệnh, trong đất nơi bảo quản khoai, dụng cụ chăm bón, nguồn nước tưới… Hậu bào tử và bào tử hữu tính của nấm có thể tồn tại 3 – 5 tháng trong điều kiện khô ráo. Trong điều kiện tự nhiên nấm bệnh nầm sâu 7 – 9mm trong tầng đất vẫn có thể giữ sức sống tới 30 tháng hoặc lâu hơn nữa

Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh

Bệnh sẹo đen phát triển mạnh trong điều kiện mưa nhiều hoặc đất trồng ẩm ướt kết hợp với nhiệt đọ 25 – 28oC. Ở điều kiện nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao  quá trình xâm nhiễm của nấm khó khăn, bệnh phát triển chậm. Khoai lang tròng trên đất cso kết cấu kém, khó thoát nước, ẩm độ cao hoặc mưa nhiều, nhiệt dộ 15 – 28oC đều là điều kiện cho phát sinh gây hại mạnh. Củ khoai mang mầm bệnh được bảo quản nơi ẩm thấp, thiếu ánh sáng, nhiệt độ trong quá trình bảo quản 20 – 28oC thì vết bệnh phát triển nhanh dẫn đến hiện tượng thối củ hoàn toàn.

Biện pháp phòng trừ bệnh

Để phòng trừ bệnh có hiệu quả bệnh sẹo đen cần tập trung vào biện pháp chọn lọc, vệ sinh và sử dụng thuốc hóa học. biện pháp chọn giống chống bệnh còn rất ít nghiên cứu. khi tiến hành phòng trừ cần áp dụng tổng hợp các biện pháp